Di tích-Danh thắng-Lễ hội

Đền thờ Nguyễn Suyền

Đền thờ Nguyễn Suyền thuộc xóm Đông Hà, xã Thạch Trị, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Đền nằm giữa xóm làng trù mật, đông đúc dân cư, phong cảnh luôn luôn thanh bình, tạo cho làng quê thuần nông này một cảm giác ấm áp, gần gũi và cũng rất đổi linh thiêng; nằm cách trung tâm Thành phố Hà Tĩnh khoảng 9km về phía Đông và cách huyện lỵ Thạch Hà 14km về phía Tây Nam.

666

Tên gọi khác: Nhân dân thường gọi là Đền Quan Nghè, ý muốn nhắc đền nơi đây thờ vị Tiến sỹ của làng; ngoài ra, đền thờ còn có tên gọi quen thuộc khác là Đền bà Phỗng, theo dân gian kể lại, Ngài từng cất quân đi đánh giặc Chiêm Thành, bắt được hai tướng Chiêm, nên sau khi Ngài mất, Vua ban cho hai vị tướng, 01 con ngựa trắng và 01 tấm bia đá về canh giữ và thờ tại Đền.
Đền thờ Nguyễn Suyền thuộc xóm Đông Hà, xã Thạch Trị, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Đền nằm giữa xóm làng trù mật, đông đúc dân cư, phong cảnh luôn luôn thanh bình, tạo cho làng quê thuần nông này một cảm giác ấm áp, gần gũi và cũng rất đổi linh thiêng; nằm cách trung tâm Thành phố Hà Tĩnh khoảng 9km về phía Đông và cách huyện lỵ Thạch Hà 14km về phía Tây Nam.
Về cuộc đời và sự nghiệp của cụ Nguyễn Suyền, hiện nay con cháu dòng họ còn lưu giữ được 02 đạo sắc thời nhà Nguyễn, do Vua Minh Mạng ban.
Qua nghiên cứu các tài liệu cổ, thì tên tuổi, danh tính  của Cụ còn lưu trong nhiều sách cổ, và một số tài liệu địa chí của địa phương, cụ Nguyễn Suyền sinh năm 1589 (không rõ năm mất), trong một gia đình có ông làm tri huyện, bố đỗ hương cống. Ông từng giữ chức Tham chính Thanh Hoa (Thanh Hóa), làm đến chức Quang lộc tự khanh, và đỗ Tiến sỹ năm 52 tuổi. Cụ từng theo đoàn quân của Chúa Trịnh đi dẹp loạn nhà Mạc ở Cao Bằng, Lạng Sơn, dành lại kinh đô, giúp nhân dân thoát khỏi cảnh binh lửa nội chiến tương tàn. Từng đi đánh quân Chiêm Thành. Cụ Nguyễn Văn Suyền chính là con rể Tiến sỹ Nguyễn Văn Gia người Phù Lưu - huyện Thiên Lộc, người có công lao lớn trong việc dẹp nhà Mạc ở Cao Bằng và đấu tranh ngoại giao khôn khéo giữa ta và Trung Quốc, giữ tình hòa hiếu lâu dài giữa hai quốc gia. Cụ Nguyễn Văn Gia cũng từng làm Án sát xứ Thanh Hóa. Đền thờ Cụ Nguyễn Văn Gia cũng đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp Quốc gia ở xã Ích Hậu, huyện Lộc Hà. Hai cha con cùng đỗ Tiến sỹ, cùng làm Án sát xứ Thanh Hoa, cùng tham gia đánh quân Mạc giúp nhà Lê - Trịnh. Nếu nói về sự trùng lặp như trên thì trong nhân gian không nhiều, thật là rất quý.
Theo sách "Nghệ An ký" của Bùi Dương Lịch có viết:
Nguyễn Văn Suyền người xã Chi Châu, huyện Thạch Hà theo Đặng khoa lục, năm 52 tuổi, ông đỗ bằng Tiến sỹ khoa Canh Thìn, đời Lê Thần Tông, niên hiệu Dương Hòa thứ 6 (1640), là đến Tự khanh.
Gia phả nhà ông chép: Ông là Tri, làm tri huyện, bố ông là Uyên đỗ Hương công, được trao chức Viên ngoại lang bộ lại, tước Thuần nghĩa tử, ông lúc đầu đỗ Hương cống trải làm Thông phán ty Thông chính, rồi làm tham Nghị kinh Bắc. Ông theo sùng Quận Công Trịnh Kiều Phủ Phùng Ủy đi đánh Cao Bằng, có công được thăng Tham chính Thanh Hóa. Hồi đó ông mới đỗ kỳ thi Hội, kết hôn với con gái Thượng thư Lễ quận công người Phù Lưu Trưởng, huyện Thiên Lộc là Nguyễn Văn Giai, ông sinh được 2 con trai, con cả tên là Phái, đỗ Hương cống làm Tham nghị Thanh Hóa, con thứ hai là Diễn là tả mạc (chức quan nhỏ giúp việc ở Thừa ty, một trong 3 Ty của một Tuần). Con cháu các đời văn học và đỗ Hương cống.
Theo cuốn "Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 - 1919, Ngô Đức Thọ chủ biên, NXB văn học, 1993, Tr551 có viết: Nguyễn Văn Suyền (1589)" người xã Chi Châu, huyện Thạch Hà, nay là xã Thạch Trị, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Trước ông được bổ ra làm quan đến chức Tham chính, đến năm 52 tuổi mới thi Hội, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Canh Thìn, niên hiệu Dương Hòa 6 (1640) đời Lê Thần Tông, thăng đến chức Quang Lộc Tự Khanh.
Còn theo sách "Liệt huyện Đăng khoa" ghi ông đỗ năm 22 tuổi.
Theo "Thiên Nam lịch Triều Đăng khoa bị khảo" có ghi: "Nguyễn Văn Suyền, người xã Chỉ Châu. Trước khi đỗ, ông giữ chức Tham chính xữ Thanh Hoa. Đến năm 22 tuổi, đổ đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Canh Thìn, niên hiệu Dương Hòa thứ 6 (1940), đời Lê Thần Tông, làm quan đến chức Quang Lộc Tự Khanh".
Theo các nhà khoa bảng Hà Tĩnh - Do Thái Kim Đỉnh biên soạn (2004), trong mục các vị Tiến sỹ đời Lê, có tên trên Văn miếu Quốc Tử Giám, bia số 35 - khoa Canh Thìn năm Dương Hòa thứ 6 (1640) (dựng ngày 16/11/Thịnh Đức năm đầu 1653).
Nguyễn Văn Suyền, người xã Chỉ Châu, huyện Thạch Hà (Đổ đồng Tiễn sỹ xuất thân đệ tam giáp - xếp thứ 15/20 người). Lần theo thông tin này, tôi tìm đến kho tư liệu của Viện Hán Nôm Việt Nam, nghiên cứu hệ thống bia ở Văn Miếu, thì đầy đủ bia số 19, có cả 1 bài minh giới thiệu quang cảnh của trường thi năm ấy, và ghi tên những người đổ, có đoạn như sau: "Niên hiệu Dương Hòa vào năm Canh Thìn, gặp thời nước nhà thịnh trị, chính buổi trọng danh hiền…" bèn vào mùa xuân năm ấy mở khoa thi Hội, kẻ sỹ văn học bốn phương hát thơ Lộc Minh mà đến cùng nhau tranh đua tài nghệ ở chốn xuân về đông đến trên 6.000 người. Quan Hữu Ty chọn được hạng trúng cách 22 người ghi tên lên … đến khi dâng quyền lên đọc, Hoàng thượng xét duyệt và định thứ bậc, chọn bọn Phí Văn  Thuật hai người đỗ Tiến sỹ xuất thân, bọn Hoàng Vinh hai mươi người đổ Đồng Tiến sỹ xuất thân. Ngày hôm đó Bộ lễ đem bảng vàng treo trước cửa nhà Thái học. Sỹ tử và dân chúng trong nước xúm đến xem bảng vàng, đều vui mừng cho là văn vận hanh thông, chân nho nối nhau xuất hiện, thật là sự kiện lớn lao trong đời thái bình. Việc ban ơn theo thứ  bậc đều theo lệ cũ, duy việc khắc đá đề danh chưa kịp cử hành. Nay sai quan bộ công mài đá khắc tên, sai từ thần chia soạn bài ký…"
Bia dựng ngày 16/11 niên hiệu Thịnh Đức thứ 1(1653) Hoàng Việt (có phụ lục kèm theo), đề tên Nguyễn Văn Suyền - xã Chỉ Châu - huyện Thạch Hà, trong phần chú thích có ghi rõ.
Nguyễn Văn Suyền (1589-?) người xã Chỉ Châu, huyện Thạch Hà (nay xã Thạch Trị, thuộc huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh).
Trước khi đi thi ông giữ chức Tham chính, sau thăng đến Quang Lộc Tự Khanh.
Ghi nhận công lao của ngài, Vua Thành Thái và Vua Khải Định đã ban sắc cho Ngài như sau:
Sắc 1: Phiên âm:
Sắc Thạch Hà huyện, Chỉ Châu xã, Hà xã thôn, phụng sự Lê triều tiến sỹ kim Tử vinh lộc đại phụ Mai Nham Nguyễn Tướng Công chỉ thần, hộ quốc tỉ dân, nậm trước linh ứng… vị hữu dự phong. Tứ kim phỉ thừa cảnh mệnh diến niệm thần hưu, trứ phong vị: Đoan túc dực bảo Trung Hưng chỉ thần chuẩn y phụng sự, thần kỳ dương hựu bảo ngã lê dân. Khâm tai!
Thành Thái lục niên, cứu nguyệt, nhị thập ngũ nhật!
Dịch nghĩa:
Sắc phong cho thôn Hà Xá, xã Chỉ Châu, huyện Thạch Hà, phụng thờ Tiến sỹ đặc Tiến Kim  Tử Vinh Lộc  Đại phu ma nham Nguyễn Tướng Công chi thần, hộ quốc tí dân, đã hiện rõ linh ứng, từ trước đến giờ chưa được phong tặng. Nay nhân mệnh lớn của thần có thể phong làm thần Dực bảo trung hứng theo như cũ phụng thờ, để thần che chở giúp dân đen của ta. Kính vậy thay!
Ngày 25 tháng 9 năm  thứ 6 niên hiệu Thành Thái!
Sắc 2: Phiên âm:
Sắc Hà Tĩnh tỉnh, Thạch Hà phủ, Hà Xá thôn, tòng tiền phụng sự nguyên tặng Đoan túc dực bảo Trung hưng Lê triều tiến sỹ đặc tiến kim từ vinh lộc đại phu Mai Nham Nguyễn Tướng Công tôn thần, hộ quốc tỉ dân, nậm trứ linh ứng tiết mông ban cấp sắc phong chuẩn hứa phụng sự. Tứ kim chính trực trẫm từ tuần Đai khánh tiết kinh ban báu chiếu đàm ân, lễ long đăng trật, thứ gia tăng quang ý trung đẳng thần, đặc chuẩn phụng sự, dụng chí quốc khánh nhi thân tự điển. Khâm tai!
Khải Định cửu niên, thất nguyệt, nhị thập ngũ nhật.
Dịch nghĩa: 
Đây là hai đạo sắc phong thần cho ngài Nguyễn Sắc phong cho thôn Hà Xá, phủ Thạch  Hà, tỉnh Hà Tĩnh theo trước mà thờ nguyên tặng Đoan túc dực bảo trung hưng Lê triều tiến sỹ, đặc tiến kim từ vinh lộc lộc đại phu Mai Nham Nguyễn Tướng Công chi thần, hộ quốc tỉ dân đã hiện rõ linh ứng, đã từng ban cho báu chiếu đàm âm, lễ long trọng tặng thêm một bậc, gia tặng Quang ý trung đẳng thần, đặc chuẩn cho phụng thờ dùng nhớ Quốc khanh mà theo điền chế. Kính vậy thay.
Ngày 25, tháng 7 năm thứ 9  Khải Định.
Suyền, giao cho nhân dân làng này thờ phụng ngài. Qua những sắc phong tên là cơ sở để khẳng định thêm về công lao cũng như vị trí của cụ Nguyễn  Suyền trong lịch sử cũng như trong đời sống tâm linh là rất lớn.
Đền thờ Nguyễn Suyền thuộc xóm  Đông Hà, xã Thạch Trị, phân bố trên một bằng với diện tích 1005m. Các công trình kiến trúc được phân bố hài hòa, đi từ ngoài vào bao gồm các hạng mục như sau: Tam quan ngoại, tiếp đến là rùa đội bia đá (đóng vai trò như một tắc môn của đền thờ), tiếp đến là tam quan nội, trung tâm là một hỏa lô đốt vàng với một lư hương có cảnh ngư tiều canh mục, tiếp theo là bái đường và thượng điện. Tất cả các hạng mục được bố trí gọn gàng trên diện tích 100m2,
Di tích được xây bằng gạch, vôi, vữa, nhà Thượng điện có kết cấu khung gỗ, tường bao bằng xi măng, theo lối kiến trúc vì kèo như bao công trình dân dụng đặc trưng của vùng này.
Tam quan ngoại: Không giống như nhiều di tích thường gặp, đền thờ Nguyễn Suyền có hai hệ thống Tam quan, đó là tam quan ngoại (lối vào trong khuôn viên di tích), và Tam quan nội (bao quanh khu vực I của di tích), tạo cho di tích tuy nhỏ nhưng có một vẻ bế thế, uy nghi hẳn.
Tam quan được làm theo kiểu một lối đi ở giữa, không có hai cửa phụ như các kiến trúc tín ngưỡng thờ tự thông thường, mà chỉ có hai cột nanh cao bằng nhau, đỉnh thắt cổ diêm, có gắn hai búp sen bằng sứ màu xanh tím, trên cột nanh đề đôi câu đối viết bằng chữ Quốc ngữ theo lối thảo thư:
"Tôn tạo từ đường tăng con cháu.
Thờ phụng tổ tiên ấy công thành"
Rùa đội bia đá: Sau Tam quan là một trục chính chạy vào di tích (dân gian quen gọi là trục thần đạo), tiếp đến là con rùa đội bia đá. Con rùa to, trong tư thế nghễn cổ lên kiểu đang bơi, bia đá chữ đã mờ không còn được nữa, có kích thước như sau:
Rùa cao: 0,5m, rộng: 0,9m, Bia đá cao: 1,2m, rộng 0,8m. Rùa đội bia đá là tượng trưng cho trí tuệ, trong chữ nghĩa thánh hiến, ý muốn nói đây là nơi thờ một người trí tuệ, thanh cao, nho nhã. Hình ảnh rùa đội bia đá đã xuất hiện rất nhiều trong mỹ thuật cổ, và phổ biến ở văn miếu Quốc Tử Giám - nơi có bia đề tên ông, hình tượng con rùa đội bia được đặt ngay lối vào được xem như một cái Tắc môn chắn mặt trước di tích nhằm nhắc nhở chúng sinh răn mình, tu dưỡng trí tuệ trước khi đi vào di tích.
Tam quan nội: Sau bia đá là đến Tam quan nội, cũng có kết cấu một lối vào giống như Tam quan ngoại, trên đỉnh đắp hai con nghê đang chầu về trung tâm. Nếu hình tượng rùa đội bia đá tượng trưng cho trí tuệ thì linh vật nghê lại mang tư cách kiểm soát tâm hồn của kẻ hành hương, để cho ai  vào di tích thì phải dẹp lòng trần, khơi lòng tĩnh, rũ bỏ mọi vương vẫn, phàm tục để đi vào thế giới của trí tuệ, đức tin.
Cột nanh có kích thước: cao: 2,7m, lòng cổng rộng 2,3m.
Trên cột đề câu đối bằng chữ Hán:
Phiên âm:                "Bái hồ tắc (?) công lễ.
                                  Đường chi trung tất hữu chí thành"
Dịch nghĩa:                "Cúng bái ở dưới cùng làm lễ
                                   Trong từ đường ắt phải cực thành kính"
Trung tâm Tam quan nội là một hỏa lô đốt vàng hình tròn và một lư hương có trang trí điêu khắc rất tỉ mỷ, họa cảnh ngư tiều canh mục rất sống động.
Có thể nói, chính lư hương này là điểm nhấn quan trọng về mỹ thuật của các hiện vật trong di tích, nó cũng góp phần làm tăng thêm giá trị thẩm mỹ của di tích. Ngắm thật kỹ lư hương ta như thấy toàn bộ cuộc sống sinh hoạt đời thường, thiên nhiên, con người, cuộc sống lao động bình dân được tạc vào trong các nét điêu khắc, đó là cảnh người nông dân đang cày, cấy trên đồng ruộng, người vũ nữ đang khoe cơ thể đầy sung mãn của mình qua từng điệu múa, những chú voi đang vươn vòi, những con khỉ đang leo trèo, hay đang trong tư thế ngồi tự lự… gần như cuộc sống đời thường được thu nhỏ lại một cách tinh túy nhất  và sống động nhất, bàn tay của ông cha thật tài hoa biết bao.
Trung điện:
Trung điện mới xây dựng năm 2001, do sự hưng công của cháu trong dòng học, nhà Hạ điện gồm 3 gian tượng trưng, mái bàng, không có tường bao xung quanh, nhằm mục đích đề lòng công trình thêm thoáng, rộng, là nơi để cho con cháu và khách thập phương hàng lễ.
Trung tâm là một bàn thờ, với hương án xây 3 tầng bằng gạch, vôi vữa, ban thờ được thiết kế chạy dọc từ Trung điện vào thẳng Thượng điện, làm bàn thờ chính của Thượng điện. Trên bàn thờ bày biện các đồ thờ cúng như ngũ sự, mân chè, lư hương, và các đồ tế khí như đao, kích, thẻ bài, lọng vải …, tất cả được sơn son, thiếp vàng.
Thượng điện:  Sau Trung điện là Thượng điện, giữa Trung điện và Thượng điện không có khoảng cách không gian rõ ràng như nhiều di tích khác mà nối liền nhau qua ba cửa ra vào, cửa chính và hai cửa phụ, tạo thành một thể liên hoàn khép kín.
Hai bên cửa phụ vào có đề đôi câu đối:
Phiên âm:                "Đường khả dĩ kiến đức
                               Gia tất hữu kim khánh"
Dịch nghĩa:             "Ở chỗ từ đường có thể thấy lòng đức
                                Ở nhà tất có niềm vui mừng"
Hai bên cửa chính có đề đôi câu đôi:
Phiên âm:                "Vạn cổ mênh mang ở bên
                               Nghìn năm cung kính đến cung"
Bước lên một bậc tam cấp là đi vào Thượng điện, ngay lối vào chính điện có hai pho tượng phỗng, hai pho tượng nay tôi đã đề cập một ít ở phần đầu, tượng có dáng to, béo, người đầy đặn, bụng to, lưng thon, thắt dải ngang eo, đặc biệt gương mặt thuần hậu mang dáng dấp của nữ nên được gọi là "Bà ngỗng", nhưng tạo hình thì mang dáng dấp của tướng Chăm. Tượng được tạc trong tư thế quỳ gối, hai tay đan vào nhau dơ ra phía trước như đang chào ai đó một cách trịnh trọng.
Thượng điện là nơi nằm sâu nhất của di tích và là nơi thờ tự các long ngai bài vị, … Thượng điện bàn thờ được thiết kế làm ba hàng, hai bên và chính điện, bàn thờ chính điện thì chạy từ ngoài vào, ở cấp cao, ở cấp cao nhất, còn ban thờ hai bên thấp hơn, thờ các vị Nam tào, Bắc đẩu.
Trung điện ban thờ chính treo bức Đại tự: "phụng tiên tổ từ đường".
(Nhà thờ phụng tổ tiên)"; Hai bên tường vẽ hai bức tranh tường họa cảnh làng quê thanh bình, yên ả.
Kích thước ban thờ chính diện như sau: Chiều cao: 1,2m. chiều rộng: 0,5m.
Kích thước ban thờ hai bên: Chiều cao: 60cm, chiều rộng: 35cm.
Trên ban thờ cũng bày biện các đồ thờ cúng như mâm chè, ngũ sự, nậm rượu, lư hương, long ngai… hai bên bày biện giống nhau.
Nhà Thượng điện có kết cấu 3 gian, hai vì làm bằng gỗ, hai vì xây bằng gạch, vôi vữa, dạng vì kèo cột trốn. (đây là kiển kiến trúc đặc trưng của vùng đồng bằng ven biển, do diện tích công trình hẹp nên phải làm dạng trốn cột để mở rộng công trình).Các cấu kiện kiến trúc như cột hiên, cột quân, cột cá chỉ có ở mái trước, còn mái sau gác mộng lên tường. Tuy có kết cấu 3 gian nhưng chỉ có hai cột cái, còn hai cột khác được thiết kế dạng cột trốn.
Cột quân cũng chỉ có hai cột, còn hai gian hai bên là các xà gỗ gác vào tường xây bằng gạch.
Trang trí kiến trúc: Trên nghé bẩy trang trí các đề tài hoa cúc, mây cuộn … ngoài ra nhiều họa tiết điều khắc trang trí tập trung trên hệ mái. Hệ mái với trung tâm là một con rồng đội mặt trời, hai đầu là hai con nghê đang trong tư thế cuốn thủy. Đây là những hình ảnh tạo hình mỹ thuật dân gian đầy chất nghệ thuật, mang giá trị khoa học cao.
Nhìn chung đền thờ Nguyễn Suyền là một công trình mang tính chất thờ tự của dòng họ, vì vậy xét về kiến trúc điêu khắc thì chắc chắn không bằng những kiến trúc tôn giáo, thờ tự khác, nhưng gí trị to lớn mà đền thờ đem lại đó là một ý nghĩa vô cùng sâu sắc đó là nơi thờ tự một vị tiến sỹ, có công lao to lớn với đất nước, với nhân dân, đặc biệt đươc vua sắc phong thần cai quản phần tâm linh cho nhân dân nơi đây. Vốn là một vùng quê nghèo, nhưng trọng nghĩa tình, đạo lý, tôn thờ chữ nghĩa thánh hiền, có lẽ đó là cái đẹp mà di tích đền thờ Nguyễn  Suyền đã để lại cho chúng ta.
Đền thờ Nguyễn Suyền là di tích thờ một vị tiến sỹ đã vinh dự có tên khắc ở bia đặt trong Văn Miếu Quốc Tử Giám. Cuộc đời và sự nghiệp của ông đã được chính sử ghi lại một cách khá đầy đủ, ông đã từng giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình phong kiến như Tham chính Thanh  Hoa (Thanh Hóa), làm đến chức Quang Lộc tự khanh, đã từng tham gia cùng với quân triều đình đánh quân Mạc ở Lạng Sơn, Cao Bằng, góp phần làm ổn định đất nước, con cháu của ông cũng học hành đỗ đạt. Công lao của ông đã được Vua Thành Thái và Khải Định ghi nhận bằng việc ban sắc phong thần, giao cho nhân dân thờ phụng.
Di tích đền thờ Nguyễn Suyền là một minh chứng cho một con người của lịch sử, có công với lịch sử nước nhà, cũng là cơ sở để đánh giá, tìm hiểu về thời đại đã qua, mà trong đó có những đóng góp của người dân Hà Tĩnh, góp phần tô đậm thêm truyền thống yêu nước, hiếu học của nhân dân Hà Tĩnh nói chung và nhân dân Thạch Trị nói riêng.
Di tích đền thờ Nguyễn Suyền đã vượt ra khơi quy mô thờ tự của một dòng họ, mà nó đã trở thành nơi hội tụ tâm linh của cả một vùng thành tài sản văn hóa của nhân dân cả xã, cả huyện, cả tỉnh. Vì vậy, việc làm hồ sơ công nhận đền thờ Nguyễn Suyền là di tích lịch sử văn hóa là xứng đáng và mang lại ý nghĩa Lịch sử Văn hóa và khoa học cao./.

Tác giả bài viết: Hậu Sơn - TP VHTT huyện Thạch Hà

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây