Nhà thờ Họ Hồ Thạch Trị

Thứ hai - 08/07/2019 10:22
Nhà thờ họ Hồ thuộc xã Thạch Trị, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, nằm về phía Đông Bắc Thành phố Hà Tĩnh cách 10 Km. Họ Hồ là một trong những dũng họ lớn ở Việt Nam. Tổ tiên họ Hồ ở Việt Nam là trạng nguyên Hồ Hưng Dật, người Triết Giang - Trung Quốc.
Nhà thờ Họ Hồ Thạch Trị
Vào thời kỳ Hậu Hán ông được cử sang Chỉ Châu làm quan Thái thú. Trong thời gian này, ông đã tận mắt nhìn thấy cảnh dân tình lầm than, đói khổ, nạn cát cứ xảy ra triền miên. Chính vì vậy ông đã từ quan, tìm nơi lập nghiệp. Nơi ông lập nghiệp là vùng đất "phía trước có sông Bào Giang chảy từ Đào Bột qua Bào Tiền, Bào Hậu ra biển. Phía sau là đồi rừng, đất đỏ Bazan màu mỡ. Những núi rừng nhấp nhô chạy dài liên tiếp tận vùng Đường Khê thượng (nay là Nghĩa Đàn, Nghệ An) và vùng phủ Châu Quỳ"(1). Tìm cho mình một vùng đất lý tưởng để định cư, tại nơi đây, Trạng nguyên Hồ Hưng Dật đã dần dần gây dựng nên dòng họ Hồ trở thành một trong những dòng họ lớn mạnh, hưng thịnh của dân tộc Việt Nam.
Họ Hồ xã Thạch Trị, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh là một chi phái của dòng họ Hồ có gốc ở xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Khởi tổ họ Hồ Nam Trị là cụ Hồ Tô, cụ thuộc Trung chi II, Đại tôn Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu - Nghệ An. Vào nửa đầu thế kỷ XVII (khoảng từ năm 1638 - 1642) cụ Hồ Tô đã vào vùng đất này dạy học. Theo phả hệ ghi lại, cụ là một thầy dạy học nổi tiếng hay chữ, lại dạy học trò rất nghiêm minh. Học trò theo học cụ khá đông. Dạy học một thời gian, thấy phong cảnh hữu tình, yêu mến con người nơi đây nên cụ đã ở lại lập nghiệp, xây dựng cơ chỉ.
          Địa danh cụ Hồ Tô đậu lại trước đây thuộc thôn Nam Trị, xã Chỉ Châu. Nay là xóm Đồng Khánh, xã Thạch Trị, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Con trai cả của cụ Hồ Tô là Hồ Tể - tự là Tiến Chúc, lấy vợ là bà Trần Thị Lưu.
          Con cháu của cụ ngày càng phát triển đông đúc, nhiều người thành đạt. Ngoài số lập nghiệp khắp nơi trên mọi miền Tổ quốc, đa phần định cư ở các xã vùng biển ngang của huyện với nhiều nghề như làm ruộng, đánh bắt cá có đến hàng nghìn nhân khẩu.
          Hiện nay, trong nhà thờ họ Hồ đang lưu giữ 4 sắc phong, phong cho cụ Hồ Văn Hợp và Hồ Bá Củng.
          Hồ Văn Hợp là con trai đầu lòng của ông bà Tiến Chúc - là cháu đích Tôn của cụ tổ Hồ Tô. Ông sinh ra và lớn lên ở thôn Nam Trị, xã Chỉ Châu ( nay là thôn Đồng Khánh, xã Thạch Trị, Thạch Hà, Hà Tĩnh). Theo các nguồn thông tin từ các cụ cao niên kể lại, gia phả của dòng họ (do cụ Hồ Hiếu dịch từ bản chữ Hán sang chữ quốc ngữ năm 1981), và bản phả chi họ Hồ Ba Tơ - Hưng Thái - Hưng Nguyên - Nghệ An, thì sau khi đậu Tam Tràng, Ông được sung vào đội quân Túc Vệ thời Lê Trung Hưng.
          Tương truyền, Hồ Văn Hợp là người cương trực, hiền hậu nên được vua trọng dụng, nhân dân yêu mến. Trong những năm làm quan, Ông luôn là người trung quân ái quốc, hết lòng vì dân chúng, luôn biết kính giữ phép tắc, lễ độ. Ông còn là một vị quan có tài, nên được thăng chức vụ cao trong triều là "Tán trị công thần đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân", được phong tước "Hầu". (Nhân sơn hầu).
          Sau khi ông mất, xét thấy công lao của Ông, Vua đã ban sắc phong thần cho ông là "Dực bảo trung hưng linh phù chi thần".
          Hiện nay trong nhà thờ còn lưu giữ hai đạo sắc phong cho Hồ Văn Hợp. Các đạo sắc đó như sau:
          1. Phiên âm
          Sắc Hà Tĩnh tỉnh, Thạch Hà phủ, Chỉ Châu xã, Nam Trị thôn, Đa Mại giáp phụng sự Tham đốc đạt triều hầu thiêm trị công thần đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân chi thần, nậm trứ linh ứng, tứ kim phỉ thừa cảnh mệnh diến niệm thần hưu, trứ phong vi Dực bảo trung hưng linh phù chi thần, chuẩn kỳ phụng sự thứ cơ thần kỳ tương hựu bảo ngã lê dân. Khâm tai!
                                                   Khải Định nhị niên tam nguyệt thập bát nhật.
          Dịch nghĩa
          Sắc phong cho giáp Đa Mại, thôn Nam Trị, xã Chỉ Châu, phủ Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, phụng thờ Tham đốc đạt triều hầu thiêm trị công thần đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân chi thần, đã hiện rõ linh ứng, nay nhân hiện rõ mệnh lớn của thần, có thể phong làm Dực bảo trung hưng linh phù chi thần, chuẩn cho phụng thờ để mong thần che chở cho dân đen của ta. Kính thay!
                                        Ngày 18, tháng 3, năm thứ hai niên hiệu Khải Định.
          2. Phiên âm
          Sắc Hà Tĩnh tỉnh, Thạch Hà phủ, Chỉ Châu xã, Nam Trị thôn, Đa Mại giáp tống tiền phụng sự nguyên tặng Dực bảo trung hưng linh phù Tham đốc đạt triều hầu thiêm trị công thần đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân nghiêm vũ vệ đô dốc chỉ huy sứ tả hùng thắng nhân sơn hầu hộ quốc tỉ dân nậm trứ linh ứng tiết mông ban cấp sắc phong chuẩn hứa phụng sự. Tứ kim chính trực trẫm tứ tuần đại khánh tiết kinh ban báu chiếu đàm ân, lễ long đăng trật trứ gia tặng Đoan túc tôn thần, đặc chuẩn phụng sự, dặng nhớ quốc khánh nhi thân tự điển. Khâm tai!
Khải Định tam niên thất nguyệt nhị thập ngũ nhật.
          Dịch nghĩa
          Sắc phong cho giáp Đa Mại, thôn Nam Trị, xã Chỉ Châu, phủ Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, theo trước phụng thờ nguyên tặng Dực bảo trung hưng linh phù Tham đốc đạt triều hầu thiêm trị công thần đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân nghiêm vũ vệ đô dốc chỉ huy sứ tả hùng thắng nhân sơn hầu, hộ quốc tỉ dân, đã hiện rõ linh ứng, đã từng ban cấp sắc phong chuẩn cho phụng sự. Nay nhân gặp lễ Trẫm tứ tuần đại khánh ban cho báu chiếu đàm ân, lễ long trọng tăng thêm một bậc, gia tặng Đoan túc tôn thần, chuẩn cho phụng thờ, dặng nhớ Quốc khánh mà theo điển chế. Kính vậy thay!
Ngày 25, tháng 7, năm thứ 3 niên hiệu Khải Định.
          Hiện nay trong Tộc phả họ Hồ Nam Trị và Hưng Thái đều ghi "Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân nghiêm võ vệ đô chỉ huy sứ, tả hùng thắng Nhân Sơn hầu; húy là Văn Hợp, tự là Huyền Đậu".
          Dị hiệu của vị thần "Nhân sơn hầu" này cũng được lưu giữ trong Long văn tế thần của xã Thạch Lạc bằng chữ Hán, phiên âm là: "Nhân sơn hầu chính trực đoan túc linh ứng, dực bảo trung hưng linh phù Đoan túc tôn thần" vào trong dịp lễ Kỳ phúc lục ngoạt - rằm tháng 6 âm lịch hàng năm.
          *Nhân vật Hồ Bá Củng
          Hồ Bá Củng là hậu duệ tôn của khởi tổ Hồ Tô. Theo gia phả của dòng họ và theo lời kể của các cụ cao niên thì sinh thời Hồ Bá Củng tham gia lính Nam Triều. Ông là người ở lâu trong quân đội, hiểu biết nhiều luật binh thời bấy giờ.
          Trong thời gian ở trong quân đội, Hồ Bá Củng đã đem hết năng lực của mình phục vụ cho quân đội, làm tốt những công việc được giao. Đồng thời Ông cũng là người gương mẫu nên đã động viên được anh em binh lính thuộc mình phụ trách hoàn thành trách nhiệm, không sợ hi sinh gian khổ. Ông là một bề tôi trung với triều đình, với đất nước nên khi đương nhiệm đã được phong chức "Phó đội trưởng".
          Sau khi về nghỉ, xét thấy công lao lớn của ông triều đình đã phong tặng chức cho ông là "chánh đội trưởng" và đặt tên thụy cho ông là "Hùng Tiết".
          Hiện nay họ Hồ Nam trị đang lưu giữ một sắc phong của Hồ Bá Củng. Sắc phong được phiên âm dịch nghĩa như sau.
          Phiên âm: 
          Thừa thiên hưng vận
          Hoàng đế sắc viết: Trẫm duy kiến nghĩa tất vi, dũng sĩ bất vong, thủ tử tinh trung, thị khuyến triều đình sở dĩ thi ân đản hiệp cốc thì tái ban chi bột. Tư nhĩ tĩnh thắng vệ đội trưởng, quyền phó đội cố Hồ Bá Củng, túc lạn sư luật cửu lệ nhung hàng, suất thập ngũ dĩ tiên chi lao, phân chẩn cách củ vạn niên nhi vónh hĩ, dũng cổ đồng bào, dục lập công danh, bất từ gian hiểm, thuộc cường khấu chi phất địch, diệc viết: chiến nguy, cố thần tử chi phỉ cung, duy tư tận lực, tiết hữu khả chẩn lao nhi bất thự. Tư đặc truy tặng nhĩ vi Trang tiết tả kỳ úy cấm binh chánh đội trưởng, thụy Hùng tiết. Tích chi sắc mệnh thượng kỳ Minh mạng hữu tri, kỳ thừa vụ dịch. Khâm tai!
          Tự Đức nhị thập ngũ niên lục nguyệt sơ tam nhật.
          Dịch nghĩa
          Thay trời hành đạo
          Hoàng đế sắc rằng: Trẫm thấy điều nghĩa tất làm, thấy bậc dũng sĩ thì không quên, người đó mất thì trung, khuyến khích triều đình là để thi ân, giúp đỡ lương thực đúng thì ban phát, ngươi tĩnh thắng vệ đội trưởng quyền phó đội Hồ Bá Củng, ở trong đội quân lâu ngày, hiểu biết luật binh, theo 15 đội quân, lấy điều cần lao làm trước, lại cổ vũ đồng bào, muốn lập công danh không từ chối gian nan hiểm trở, không sợ nguy hiểm, làm việc tận lực không cần báo đáp. Đặc biệt có thể truy tặng làm Trang tiết tả kỳ úy cấm binh chánh đội trưởng, tên thụy là Hùng Tiết. Sắc phong ban thưởng để làm sáng rõ không được làm bại hoại. Kính thay!
          Ngày 3, tháng 6, năm thứ 25 niên hiệu Tự Đức. (Tức ngày 27-7- 1873)
          Nhà thờ nằm quay mặt về hướng Nam, theo phả hệ của dòng họ ghi lại, nhà thờ được xây dựng vào khoảng thời Nguyễn, hiện không rõ thời gian xây dựng cụ thể. Qua các thời kỳ đó được trùng tu, tôn tạo nhiều lần. Lần gần đây nhất nhà thờ được tu sửa, tôn tạo vào Tháng Giêng năm Tân Tỵ - 2001.
          Trước đây, ngay trước từ đường có một nhà thờ được xây dựng khá kiến cố, bền vững với kiến trúc độc đáo. Nhưng theo thời gian đó bị hư hỏng và hiện nay dấu tích còn sót lại chỉ là nền đền thờ trước từ đường.
          Hiện nay nhà thờ họ Hồ Nam Trị bao gồm các công trình sau:
          1. Nhà bái đường: Là công trình mới được xây dựng sau này. Nhà được lợp mái ngói piroximang, xà gồ tre, nền láng xi măng. Nhà dựng 6 cột bê tông chống đỡ. Chiều dài mặt bằng 8m, chiều rộng rộng 4,4m, cao 8m, diện tích mặt bằng là 35,2m2.
          2. Bàn thờ tả, hữu và bàn thờ chính ngoài trời. 
          Qua nhà thượng điện là hệ thống bàn thờ ngoài trời, bao gồm bàn thờ tả, hữu và bàn thờ chính được xây giữa sân.
          - Bàn thờ tả, hữu: Bàn thờ tả, hữu được xây đối mặt về nhau, có hình dáng, kích thước giống nhau. Trên bàn thờ có trang trí đầu rồng ở giữa, hai bên có trang trí hoa văn. Bàn thờ được làm mới sau này bằng chất liệu xi măng. Bàn thờ cao 0,5m; rộng 1,15m; dài 1,8m. Trên bàn thờ có trang trí hoa văn, hai bên vát nhọn.
          - Bàn thờ giữa sân: Xây bằng xi măng, được chia làm hai bậc. Giữa bàn thờ có trang trí đầu rồng, hai bên trang trí hoa văn đối xứng.
          Bậc 1: Bậc một rộng 0,9m; dài 1,7m; cao 0,85m.
          Bậc 2: Bậc 2 dài 1,75m; rộng 1,35m, cao 0,6m.
          3. Nhà thượng điện: Mới được tu sửa sau này. Nhà lợp mái ngói vảy, mái đổ bê tông, vì kèo bê tông, đỉnh mái trang trí hình lưỡng long triều nguyệt. Hai bên trang trớ đầu rồng khá tinh tế và đẹp mắt.
          Trước nhà thượng điện cú bức đại tự "Cổ nguyệt đường" (Từ đường cổ nguyệt). Ở vị trớ cỏc cột cú một số cõu đối nhưng qua nhiều lần tu sửa đó bị mờ, một số chữ đó mất hẳn.
          Thượng điện nhỏ, có chiều cao 3,5m; dài 2,95m.
          Từ thềm lên thượng điện được xây bằng các bậc tam cấp, có chiều dài 0,68m; rộng 0,25m. Bậc thềm xây 4 cột trụ, khoảng cách giữa các cột là 1,02m.
          Nhà có ba cửa, một cửa chính và hai cửa tả, hữu. Cửa chính có hai cánh, làm bằng gỗ, hai của phụ tả hữu mỗi cửa một cánh, làm bằng gỗ.
          Hệ thống bàn thờ trong nhà thượng điện được bố trí như sau:
          Trong nhà thượng điện đặt 3 bàn thờ, bàn thờ được xây bằng xi măng.
          Bàn thờ ở giữa cao 0,63m; rộng 0,36m; dài 1,06m. Trên bàn thờ có trang trí , hình rồng bay phượng múa, trờn bàn thờ có đặt 1 long ngai, 1 bài vị. Hai bàn thờ hai bên cao 0,63m; rộng 0,52m, dài 1,06m. Trên bàn thờ có đặt lư hương, mâm chố.
          Ở giữa nhà thượng điện, phía trờn bàn thờ có bức đại tự Thủy phát, nghĩa là Gốc phát sinh ban đầu.
          Di tích là nơi thờ họ Hồ, và đặc biệt là cụ Hồ Bá Củng, cụ Hồ Văn Hợp, những con người đó có nhiều công lao với triều đình, với nhân dân, góp phần bảo vệ và xây dựng đất nước. Đây cũng là một trong những minh chứng về đạo lý uống nước nhớ nguồn của hậu thế với các vị tiền nhân đã có công với quê hương, dân tộc.
          Hiện vật, tư liệu, đặc biệt là các sắc phong đang lưu giữ trong di tích sẽ là những tư liệu quý góp phần để chúng ta tìm hiểu về mảnh đất Thạch Trị, về sự phát triển của dòng họ Hồ cùng với các dòng họ khác trong vùng, về vai trò của văn hóa, mối quan hệ cộng đồng làng xã trong sự phát triển chung của đất nước.
          Di tích còn là một công trình có giá trị về nghệ thuật. Các hoạ tiết trang trí trên đỉnh nóc, bờ mái đã thể hiện được sự khéo léo của các nghệ nhân xưa. Cùng các đường nét hoa văn sống động đã tạo nên đường nét kiến trúc tinh tế, sự hài hoà trong không gian xây dựng của công trình mang đậm tính tâm linh./.
 

Tác giả bài viết: Hậu Sơn - TP VHTT huyện Thạch Hà

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây